Trong một thời gian dài trước đây, khi nói đến việc làm của sinh viên ngành báo chí – truyền thông, người ta thường nghĩ ngay đến các tòa soạn báo in, đài phát thanh, đài truyền hình hoặc những cơ quan truyền thông lớn. Đó từng là những “cánh cửa chính” dẫn người trẻ bước vào nghề. Tuy nhiên, cánh cửa ấy đang hẹp lại. Sự suy giảm lượng phát hành báo in, việc công chúng chuyển sang mạng xã hội và các nền tảng video, sự dịch chuyển của nguồn thu quảng cáo, quá trình sáp nhập và tinh gọn các cơ quan báo chí, cùng sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động truyền thông. Không ít sinh viên và phụ huynh vì thế đang đặt câu hỏi: Liệu học truyền thông hôm nay có còn nhiều cơ hội nghề nghiệp?
Câu trả lời có lẽ không nằm ở hai chữ “còn” hay “hết”. Điều quan trọng hơn là phải nhận diện một thực tế: truyền thông đại chúng truyền thống đang thu hẹp, nhưng nhu cầu truyền thông của xã hội không hề giảm. Nhu cầu ấy chỉ chuyển sang những chủ thể, nền tảng, định dạng và mô hình nghề nghiệp mới.
Khi truyền thông truyền thống không còn giữ vị trí độc quyền
Sự thu hẹp của truyền thông đại chúng truyền thống trước hết thể hiện ở việc báo in, phát thanh và truyền hình không còn giữ vị trí gần như độc quyền trong sản xuất và phân phối thông tin. Theo Digital News Report 2026 của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters, Đại học Oxford, mạng xã hội và các nền tảng video tiếp tục mở rộng vai trò trong quá trình công chúng tiếp cận tin tức, trong khi lượng người sử dụng các nguồn tin truyền thống như báo in, phát thanh và truyền hình tiếp tục suy giảm. Báo cáo dành riêng một chương để phân tích nguyên nhân truyền hình, báo in và phát thanh đang mất dần công chúng tin tức. Khoảng 54% số người được hỏi sử dụng mạng xã hội và mạng video để tiếp cận tin tức, cao hơn tỷ lệ 51% sử dụng trực tiếp website và ứng dụng của các cơ quan báo chí. Xu hướng này đã được thể hiện rõ trong Digital News Report 2025. Báo cáo nhận định các cơ quan tin tức truyền thống đang gặp khó khăn trong việc duy trì kết nối với công chúng; mức độ sử dụng truyền hình, báo in và cả website tin tức tiếp tục giảm, trong khi sự phụ thuộc vào mạng xã hội, nền tảng video và các công cụ tổng hợp thông tin ngày càng tăng.

Nguồn ảnh: Alexander Shatov (Unsplash).
Những thay đổi được định lượng này không hẳn có nghĩa là công chúng không còn cần thông tin. Họ vẫn đọc, xem, nghe, bình luận và chia sẻ mỗi ngày, nhưng không nhất thiết tìm đến một tờ báo, một đài phát thanh hay một kênh truyền hình cụ thể như trước đây. Tin tức giờ đây có thể đến với người dùng qua TikTok, YouTube, Facebook, podcast, bản tin thư điện tử, ứng dụng tổng hợp hoặc câu trả lời do công cụ AI tạo ra. Sự thay đổi cũng diễn ra ở chủ thể truyền thông. Nhà báo và cơ quan báo chí không còn là những người duy nhất có khả năng đưa một vấn đề vào chương trình nghị sự xã hội. Người sáng tạo nội dung, chuyên gia độc lập, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, trường đại học, cơ quan công quyền và chính những người sử dụng bình thường đều có thể tham gia sản xuất, diễn giải và lan truyền thông tin.
Truyền thông đại chúng vì thế không biến mất. Nó đang chuyển từ mô hình tập trung vào một số ít thiết chế lớn sang một hệ sinh thái phân tán hơn, trong đó quyền sản xuất nội dung được mở rộng nhưng khả năng tiếp cận công chúng lại ngày càng bị chi phối bởi các nền tảng.
Tinh gọn đầu mối nhưng mở rộng không gian số trong nước
Ở Việt Nam, sự thu hẹp của hệ thống truyền thông truyền thống không chỉ xuất phát từ biến đổi công nghệ và hành vi công chúng mà còn gắn với quá trình quy hoạch báo chí. Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 3 tháng 4 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, đặt ra định hướng sắp xếp hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, giảm chồng chéo, xác định rõ chức năng và phát triển các cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện. Quá trình này làm thay đổi rõ rệt cơ cấu báo in, báo điện tử, tạp chí, phát thanh và truyền hình. Khi số lượng đầu mối giảm, nhu cầu tuyển dụng theo mô hình cũ cũng sẽ giảm. Một cơ quan sau sáp nhập khó có thể duy trì toàn bộ số lượng vị trí tương đương với tổng nhân sự của các đơn vị trước đó. Áp lực tinh giản, tái cơ cấu và nâng cao năng suất lao động là điều khó tránh khỏi.
Riêng tại TP.HCM, trung tâm báo chí của cả nước, quá trình tái cấu trúc đã diễn ra ở quy mô lớn. Ngày 20 tháng 6 năm 2026, Thành phố công bố quyết định thành lập Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM. Cơ quan mới là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Thành ủy TP.HCM, với ba cơ quan báo chí trực thuộc gồm Báo Sài Gòn Giải Phóng, Báo điện tử Tuổi Trẻ và Đài Phát thanh và Truyền hình TP.HCM. Trước đó, Đài Phát thanh và Truyền hình TP.HCM cũng được tổ chức lại trên cơ sở sáp nhập Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương, Đài Phát thanh và Truyền hình Bà Rịa – Vũng Tàu và Đài Truyền hình TP.HCM. Những thay đổi ấy chắc chắn tác động đến thị trường lao động truyền thông tại thành phố. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào số lượng tòa soạn và đài phát thanh – truyền hình để đánh giá tương lai ngành truyền thông, chúng ta sẽ bỏ qua phần lớn thị trường đang hình thành bên ngoài các cơ quan báo chí.


Sinh viên Khoa Truyền thông sáng tạo tham gia thực hành và các hoạt động chuyên môn thực tế. Nguồn: Nguyễn Đức Dũng.
Theo báo cáo Digital 2026: Vietnam của DataReportal, cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người sử dụng Internet, tương đương 84,2% dân số, cùng khoảng 79 triệu danh tính người dùng mạng xã hội. Cần lưu ý “danh tính người dùng” không hoàn toàn đồng nghĩa với số cá nhân riêng biệt, nhưng những con số này vẫn cho thấy quy mô rất lớn của không gian công chúng số tại Việt Nam. Trong không gian ấy, hầu như mọi tổ chức đều phải thực hiện hoạt động truyền thông. Doanh nghiệp cần tiếp cận khách hàng; cơ quan nhà nước cần truyền đạt chính sách; trường đại học cần tuyển sinh và xây dựng thương hiệu; bệnh viện cần truyền thông sức khỏe; địa phương cần quảng bá du lịch; tổ chức xã hội cần vận động sự tham gia; còn các cá nhân và cộng đồng nghề nghiệp đều muốn tạo dựng sự hiện diện trên môi trường số. Nói cách khác, số cơ quan truyền thông chuyên nghiệp có thể giảm, nhưng số chủ thể có nhu cầu thực hiện hoạt động truyền thông lại đang tăng lên.
Điều mất đi là một số vị trí cũ, không phải nhu cầu truyền thông
Một tờ báo có thể ngừng xuất bản độc lập. Một đài phát thanh hoặc truyền hình có thể giảm đầu mối và nhân sự. Một phòng tin tức có thể bị thu hẹp. Nhưng doanh nghiệp vẫn cần kể câu chuyện thương hiệu; chính quyền vẫn phải giao tiếp với người dân; các tổ chức vẫn phải quản trị danh tiếng; còn thị trường vẫn cần những nội dung có khả năng tạo sự chú ý, niềm tin và hành động. Sự phát triển của thương mại điện tử là một minh chứng. Theo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương, quy mô thương mại điện tử Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 31 tỉ USD, tăng 25,5% và chiếm khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ. Một thông tin khác của Bộ Công Thương cho biết khoảng 60% dân số đã tham gia mua sắm trực tuyến.
Đằng sau những con số này là một thị trường lao động truyền thông rộng lớn: sản xuất video bán hàng, xây dựng nội dung thương hiệu, quản trị mạng xã hội, phát triển người ảnh hưởng, vận hành livestream, chăm sóc cộng đồng, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, phân tích hành vi khách hàng và xử lý khủng hoảng trên môi trường số. Một doanh nghiệp nhỏ trước đây có thể chỉ cần bảng hiệu và một số công cụ quảng cáo đơn giản. Ngày nay, doanh nghiệp ấy có thể phải quản trị website, Facebook, TikTok, YouTube, gian hàng thương mại điện tử và hệ thống phản hồi khách hàng. Mỗi tổ chức, ở một mức độ nào đó, đang trở thành một đơn vị xuất bản nội dung. Điều này cho thấy thị trường lao động ngành truyền thông không còn tập trung chủ yếu ở các báo, đài truyền thống, mà được phân bố sang doanh nghiệp, trường học, cơ quan công quyền, tổ chức văn hóa, công ty công nghệ, tổ chức phi lợi nhuận, các nhóm sản xuất độc lập và nền kinh tế sáng tạo. Nhưng thị trường này đòi hỏi những kỹ năng gì ở người lao động?
AI tạo áp lực lên các công việc ở cấp độ đầu vào
Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tìm kiếm thông tin, phiên âm, dịch thuật, tóm tắt, viết nội dung, tạo hình ảnh, dựng video và phân tích dữ liệu. Những công việc lặp lại, có quy trình rõ ràng và chủ yếu dựa vào thao tác kỹ thuật sẽ chịu áp lực lớn. Theo nghiên cứu Generative AI and Jobs: A Refined Global Index of Occupational Exposure của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khoảng một phần tư số việc làm trên thế giới có một mức độ tiếp xúc nhất định với AI tạo sinh (Generative AI). Tuy nhiên, ILO nhấn mạnh rằng sự biến đổi nội dung và cách thức thực hiện công việc có khả năng diễn ra phổ biến hơn việc con người bị thay thế hoàn toàn.

Nguồn ảnh: Jo Lin (Unsplash).
Vì vậy, mối đe dọa thực sự không đơn giản là “AI lấy mất việc làm”. Nguy cơ trực tiếp hơn là người sử dụng AI thành thạo có thể thay thế người không biết sử dụng AI; trong khi người có tư duy chiến lược, hiểu bối cảnh và có năng lực kiểm chứng sẽ vượt lên trên người chỉ biết tạo nội dung theo mẫu. Trong môi trường dư thừa thông tin, giá trị của người làm truyền thông không còn nằm ở khả năng sản xuất thật nhiều nội dung. Giá trị ấy ngày càng nằm ở khả năng tạo ra nội dung đúng, có ích, đáng tin, phù hợp với công chúng và có trách nhiệm với xã hội.
Truyền thông dựa trên dữ liệu
Các tổ chức không chỉ cần người sản xuất nội dung mà còn cần người hiểu công chúng: họ là ai, quan tâm điều gì, phản ứng như thế nào, tiếp cận nội dung ở đâu và hành động sau khi tiếp nhận ra sao. Sinh viên tốt nghiệp biết phân tích dữ liệu nền tảng, thực hiện lắng nghe mạng xã hội, đo lường chiến dịch và chuyển dữ liệu thành quyết định truyền thông sẽ có lợi thế rõ rệt.
Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 6 tháng 4 năm 2023 phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đặt mục tiêu phát triển các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; đổi mới trải nghiệm của công chúng; tạo nguồn thu mới và phát triển các sản phẩm báo chí số. Điều đó cho thấy ngay cả bên trong các cơ quan báo chí, cơ hội mới sẽ dành cho những người có khả năng kết hợp nội dung, dữ liệu, công nghệ và hiểu biết về công chúng.
Điều phối giữa con người, công nghệ và nội dung
Hiểu biết về AI, dữ liệu không chỉ tạo ra nguy cơ khó kiếm việc mà còn hình thành những yêu cầu năng lực mới. Các tổ chức cần những người biết đặt câu hỏi đúng cho công cụ, đánh giá đầu ra, phát hiện sai lệch, kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và quyết định nội dung nào có thể công bố.
Theo The Future of Jobs Report 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, AI và dữ liệu lớn đứng đầu nhóm kỹ năng có nhu cầu tăng nhanh nhất. Tuy nhiên, tư duy phân tích, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi, tính linh hoạt, năng lực lãnh đạo và hợp tác vẫn tiếp tục được các nhà tuyển dụng đánh giá cao.
Điều này đặc biệt phù hợp với ngành truyền thông. Công nghệ có thể tạo ra bản nháp, nhưng con người phải xác định mục tiêu, hiểu bối cảnh, lựa chọn thông điệp, đánh giá rủi ro và chịu trách nhiệm cuối cùng.
Vậy sinh viên truyền thông cần chuẩn bị những gì?
Trước hết, sinh viên cần thay đổi quan niệm rằng học truyền thông chỉ để tìm một vị trí cố định tại báo hoặc đài. Mục tiêu thực tế hơn là hình thành năng lực truyền thông có thể được sử dụng trong nhiều loại hình tổ chức và nhiều môi trường nghề nghiệp. Vì vậy, người học cần chuẩn bị ít nhất bốn nhóm năng lực.
Thứ nhất là năng lực tạo nội dung: viết, phỏng vấn, kể chuyện, quay phim, chụp ảnh, ghi âm, thiết kế và biên tập đa phương tiện.
Thứ hai là năng lực tư duy chiến lược: nghiên cứu công chúng, xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch, lựa chọn kênh truyền thông, quản trị thương hiệu và đo lường hiệu quả.
Thứ ba là năng lực công nghệ: sử dụng AI, khai thác dữ liệu, quản trị nền tảng, hiểu nguyên tắc vận hành của thuật toán và nhanh chóng thích nghi với công cụ mới.
Thứ tư là năng lực nền tảng nghề nghiệp: hiểu pháp luật, tôn trọng đạo đức truyền thông, biết kiểm chứng thông tin, có tư duy phản biện và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.
Đặc biệt, mỗi sinh viên cần xây dựng một hồ sơ năng lực thực sự. Bằng tốt nghiệp cho biết người học đã hoàn thành chương trình đào tạo, nhưng sản phẩm cá nhân, dự án nhóm, chiến dịch đã triển khai và khả năng giải thích các quyết định nghề nghiệp mới giúp nhà tuyển dụng thấy được người học có thể làm gì.

Sinh viên Khoa Truyền thông sáng tạo tham gia thực hành và các hoạt động chuyên môn thực tế. Nguồn: Nguyễn Đức Dũng.
Sinh viên không nên chờ đến năm cuối mới bắt đầu tích lũy kinh nghiệm. Mỗi học phần, hoạt động ngoại khóa, dự án cộng đồng hoặc sản phẩm cá nhân đều có thể trở thành một phần của hồ sơ nghề nghiệp. Một podcast được chuẩn bị nghiêm túc, một phóng sự ngắn được thực hiện có trách nhiệm, một kế hoạch truyền thông dựa trên dữ liệu hoặc một kênh mạng xã hội phục vụ tốt một cộng đồng cụ thể đều có giá trị hơn nhiều so với nội dung chạy theo lượt xem nhưng thiếu chiều sâu.
Không phải sự kết thúc, mà là sự phân bố lại cơ hội
Sự thu hẹp của truyền thông đại chúng truyền thống là một quá trình có thật. Một số vị trí việc làm cũ sẽ biến mất. Một số cơ quan sẽ tiếp tục sáp nhập. Yêu cầu đối với người lao động sẽ ngày càng cao hơn. Sinh viên ngành truyền thông không nên được tiếp tục ru ngủ bằng suy nghĩ rằng thị trường luôn rộng mở và chỉ cần tốt nghiệp là có việc làm. Nhưng các bạn cũng không nên nhìn sự thay đổi bằng tâm thế bi quan. Xã hội càng số hóa, càng cần được truyền thông. Khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần người biết lựa chọn và kiểm chứng. Khi AI có thể tạo nội dung trong vài giây, xã hội càng cần người chịu trách nhiệm về ý nghĩa và hệ quả của nội dung ấy. Khi mọi tổ chức đều phải giao tiếp với công chúng, năng lực truyền thông càng trở thành một năng lực trung tâm của nền kinh tế.
Cơ hội nghề nghiệp ngành truyền thông không mất đi mà đang được phân bố lại: từ một số cơ quan báo chí sang hàng nghìn doanh nghiệp và tổ chức; từ một tòa soạn lớn sang nhiều nhóm sản xuất nhỏ; từ truyền thông đại chúng sang các cộng đồng chuyên biệt; từ công việc cố định sang dự án, nền tảng và mô hình nghề nghiệp linh hoạt; từ thao tác thủ công sang sự kết hợp giữa con người và trí tuệ nhân tạo.
Trong bối cảnh ấy, sinh viên truyền thông có lẽ không nên chỉ hỏi: “Báo và đài còn tuyển dụng hay không?”Câu hỏi quan trọng hơn phải là: “Tôi có thể giúp một tổ chức hiểu công chúng, giải quyết một vấn đề truyền thông, tạo ra nội dung có giá trị và sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm như thế nào?” Người trả lời được câu hỏi đó bằng kiến thức, kỹ năng, sản phẩm và trải nghiệm thực tế sẽ vẫn tìm thấy cơ hội của mình, ngay cả khi những con đường nghề nghiệp quen thuộc đang ngày càng thu hẹp.
TS. Trương Văn Minh
Ảnh: Nguyễn Đức Dũng / Unsplash
Nguồn tham khảo:
Bộ Công Thương. (15 tháng 1, 2026). Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026
Egan, J., Robertson, C. T., Ross Arguedas, A., Newman, N., Nielsen, R. K., Mukherjee, M., & Fletcher, R. (2026). Digital news report 2026. Reuters Institute for the Study of Journalism.
Gmyrek, P., Berg, J., Kamiński, K., Konopczyński, F., Ladna, A., Nafradi, B., Rosłaniec, K., & Troszyński, M. (20 tháng 5, 2025). Generative AI and jobs: A refined global index of occupational exposure (ILO Working Paper No. 140). International Labour Organization.
Hội đồng nhân dân TP.HCM. (20 tháng 6, 2026). Ông Lê Văn Minh làm Tổng giám đốc Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM.
Kemp, S. (08 tháng 11, 2025). Digital 2026: Vietnam.
DataReportal.Newman, N., Ross Arguedas, A., Robertson, C. T., Nielsen, R. K., & Fletcher, R. (2025). Digital news report 2025. Reuters Institute for the Study of Journalism.
Thủ tướng Chính phủ. (2019). Quyết định số 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 348/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
World Economic Forum. (07 tháng 1, 2025). The Future of Jobs Report 2025.
